Top 10 cầu thủ xuất sắc của Stuttgart trong lịch sử đội bóng



VfB Stuttgart đã được biết đến với đội bóng thuộc giải hạng nhất nước Đức Bundesliga. VfB Stuttgart đã 5 lần vô địch quốc gia, gần đây nhất là vào các năm 2006–07; DFB-Pokal ba lần; và UEFA Intertoto Cup kỷ lục ba lần. Cùng trang web soi kèo bóng đá điểm danh top 10 cầu thủ xuất sắc của Stuttgart trong lịch sử đội bóng.

Eike Immel

Eike Immel

Anh chuyển nhượng Deutsche Mark giá trị 2 triệu cho VfB Stuttgart năm 1986, mức phí lớn nhất từng được trả cho một thủ môn trong lịch sử bóng đá Đức vào thời điểm đó. Anh đã chơi 9 năm với tư cách là thủ môn thường xuyên của Stuttgart, chức năng vô địch Bundesliga năm 1992 và giải vô địch UEFA Cup năm 1989 cùng họ. Sau đó, anh chuyển đến Manchester City, nơi anh nghỉ ngơi vào cuối mùa giải 1995–96. Ghi bàn 19 lần, phần lớn là do anh ấy từ giã đội tuyển Tây Đức 28 tuổi.

Timo Hildebrand (Đức)

Hildebrand là một phần của đội bóng được gọi là “những người trẻ hoang dã của Stuttgart” dưới thời gian huấn luyện viên Felix Magath vào đầu những năm 2000. Hildebrand cũng đóng một vai trò quan trọng trong chiến thắng Bundesliga 2006–07 của Stuttgart, được coi là cầu thủ xuất sắc của Stuttgart, là trụ cột cho thế hệ tiếp theo của những “kẻ hoang dã” giúp Stuttgart cung cấp hàng thủ tốt thứ ba trong mùa giải.

 Năm 2007, anh gia nhập Valencia, nhưng anh chưa tìm được bao giờ những công ty tương tự sau thời gian khoác áo Stuttgart. 

Andreas Hinkel (Đức)

Andreas Hinkel

Andreas Hinkel bắt đầu sự nghiệp của mình với VfB Stuttgart vào năm 2000, trước khi chuyển đến câu lạc bộ La Liga Sevilla vào năm 2006. Anh cũng chơi cho Celtic và Freiburg. Khi còn thi đấu cho Stuttgart, anh thuộc hệ thống được gọi là “những người hoang dã”.   Hinkel đã chơi 21 trận cho Đức từ năm 2003 đến 2009, và có mặt trong đội hình của họ cho Euro 2004. 

Thomas Berthold (Đức)

Anh bắt đầu sự nghiệp của mình vào năm 1982 với Eintracht Frankfurt và chơi cho họ đến năm 1987. Từ năm 1987 đến năm 1991, anh chơi ở Ý: cho Hellas Verona (1987–1989) và AS Roma (1989–1991) . Sau đó anh trở lại Đức, hợp đồng với FC Bayern Munich (1991–1993) và VfB Stuttgart (1993–2000).

Anh ấy cũng chơi cho Adanaspor. Từ năm 1985 đến 1994, Berthold có 62 lần khoác áo đội tuyển Mexico 1986 và Euro 1988 tổ chức tại Tây Đức. Anh là thành viên của đội tuyển Tây Đức vô địch World Cup 1990.

Karl-Heinz Forster (Đức) 

Với đội tuyển Tây Đức, Forster đã có 81 lần khoác áo đội tuyển từ năm 1978 đến năm 1988. Anh chức vô địch châu Âu năm 1980 và đứng thứ 2 tại World Cup năm 1982 và 1986.  

Anh được coi là một trong những hậu vệ xuất sắc nhất trong những năm 1980. Anh ấy đã chơi với VFB Stuttgart vs Marseille. 

Với Stuttgart, anh đã giành chức vô địch Bundesliga mùa giải 1983–84. Anh ấy đã giành được hai chức vô địch ở Pháp. Anh trai Bernd của anh cũng chơi cho Tây Đức và VfB Stuttgart.

Karl-Heinz Forster

Gunther Schafer  (Đức)

Trong mười sáu năm chơi cho VfB Stuttgart, hậu vệ này đã trở thành cầu thủ xuất sắc của Stuttgart – một trong những cầu thủ nổi tiếng nhất từng chơi cho họ và là một trong số ít cầu thủ giành được hai danh hiệu vô địch Đức với họ. . Trận đấu nổi tiếng nhất trong sự nghiệp của anh ấy là phá bóng ra khỏi khung thành bằng một cú đá xe đạp chổng ngược, có nguy cơ bị chấn thương, trong trận đấu cuối cùng của mùa giải 1991-92 gặp Bayer Leverkusen, trận đấu mà Stuttgart đã giành chiến thắng 2-1, do đó đạt được danh hiệu vô địch Đức trong mùa giải đó. 

Bernd Forster (Đức) 

Forster bắt đầu với SV Waldhof Mannheim, tại Bundesliga 2. Năm 1975, ông chuyển sang FC Bayern Munich, nhưng ở lại đó không thành công.  

Bernd Forster

Sau khi giành được vị trí cao nhất với 1. FC Saarbrücken, Förster chuyển sang VfB Stuttgart, nơi anh chơi với anh trai Karlheinz ở hàng hậu vệ. Ghi bàn 33 lần, anh là cầu thủ chủ chốt tại vòng chung kết WC năm 1982, nơi anh đá  cặp  với anh trai Karl-Heinz.

Zvonimir Soldo (Croatia)

Soldo đã chơi với NK Dinamo Zagreb, NK Zadar và NK Inter Zaprešić ở Croatia trước khi gia nhập VfB Stuttgart vào năm 1996, nơi anh chơi cho đến năm 2016. Trong giai đoạn này, Soldo đã giành cúp Đức năm 1997 và lọt vào cúp Châu Âu Vô địch chung kết Cúp C1 năm 1998, cũng như về đích với vị trí á quân trong chiến dịch 2002/03. Giới hạn 61 lần. Anh là đội của Croatia tại Vòng chung kết World Cup 1998, nơi họ lọt vào bán kết. Anh ấy cũng chơi ở Nhật Bản / Hàn Quốc bốn năm sau đó.

Ludovic Magnin (Thụy Sĩ)

Năm 1999, anh có trận ra mắt chuyên nghiệp cho Yverdon Sports. Vào mùa hè năm 2000, anh chuyển đến AC Lugano bên phía Ticino. Năm 2002, Magnin gia nhập Werder Bremen, nơi anh giành cú đúp (Giải vô địch Đức và Cúp quốc gia Đức).  

Năm 2005, anh chuyển đến VfB Stuttgart, nơi anh trở thành cầu thủ thường xuyên của đội một trong mùa giải đầu tiên và là cầu thủ quan trọng của đội trong mùa giải 2006–07 tiếp theo. Đã có 63 lần khoác áo đội tuyển và có thời điểm là đội trưởng Thụy Sĩ. 

Philipp Lahm (Đức) 

Philipp Lahm là đội trưởng của đội vô địch World Cup 2014. Anh cũng giành được cú ăn ba vào năm 2013 khi cùng Bayern Munich vô địch Champions League, Cúp quốc gia Đức và Bundesliga. Anh cũng chơi cho VfB Stuttgart dưới dạng cho mượn. 

Anh ấy đã có 113 lần khoác áo đội tuyển Đức vào cuối vòng chung kết World Cup năm 2014, nơi anh ấy từ giã đội tuyển quốc gia. Anh được đưa vào đội hình tiêu biểu World Cup của giải đấu năm 2006 và 2010.  

Guido Buchwald  (Đức)

Trận đấu hay nhất trong sự nghiệp của Buchwald có lẽ là trận chung kết FIFA World Cup 1990, nơi anh ghi dấu ấn hiệu quả với cầu thủ bóng đá điêu luyện Diego Maradona, khiến anh có biệt danh “Diego”. 

Anh cũng là một phần của đội tuyển Đức tham dự FIFA World Cup 1994 đáng thất vọng và đã thu về 76 lần khoác áo sự nghiệp. Anh ấy đã dành phần lớn sự nghiệp của mình cho Stuttgart, và là cầu thủ xuất sắc của Stuttgart khi giành được hai chức vô địch. Vào cuối sự nghiệp của mình, anh ấy đã chơi ở Nhật Bản.